Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não

Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não

PGS. TS. Vũ Thị Bích Hạnh

 

Mục tiêu : sau khi học xong bài này, học viên có thể:

  1. Trình bày được định nghĩa, những khiếm khuyết và mục tiêu, các biện pháp phục hồi chức năng cho BN LNN ở giai đoạn sớm.
  2. Mô tả được mẫu co cứng và mục tiêu, các biện pháp phục hồi chức năng ở giai đoạn hồi phục.
  3. Trình bày các mục tiêu và nội dung phục hồi chức năng tại nhà

 

  1. Đại cương và định nghĩa:

Liệt nửa người (LNN), liệt bán thân hay đột quỵ là thuật ngữ dùng để mô tả trường hợp giảm chức năng đột ngột của não do tổn thương của động mạch não. Chấn thương sọ não cũng có thể gây LNN nhưng do bệnh cảnh khác nhau nên người  ta không xếp vào nhóm bệnh này.

ở các nước phát triển, TBMN là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 sau bệnh ung thư và tim mạch. Tỷ lệ hiện mắc ở Hoa kỳ (1991) là 794/100.000 dân. ở  Pháp, tỷ lệ này (1976) là 60/1000 dân, gây tàn tật ở 50% người bệnh. Còn ở Việt nam, theo số liệu của Bộ môn Thần kinh- ĐHY Hà nội (1994), tỷ lệ hiện  mắc là 115,92/ 100.000, trong đó 92,62% có di chứng vận động, di chứng nhẹ và vừa chiếm 62,41%. Do vậy nhu cầu phục hồi chức năng cho những đối tượng này là rất lớn. Theo số liệu thống kê của Khoa PHCN, BV Bạch mai (1999), 22,41% BN điều trị nội trú tại khoa là BN LNN. Có thể nói, TBMN luôn là vấn đề thời sự của công tác phục hồi chức năng.

Theo định nghĩa của TCYTTG, tai biến mạch não là những thiếu sót chức năng thần kinh thường là khu trú xảy ra đột ngột, có thể hồi phục hoàn toàn  hoặc dẫn đến tử vong trong 24h, loại trừ các nguyên nhân sang chấn. Nguyên nhân của nó là do các bệnh lý khác nhau của mạch máu não.

 

  1. CHẨN ĐOÁN TRONG TBMMN:

* Chẩn đoán thể tổn thương giải phẫu:

NMN / XHN (bệnh học thần kinh)

* CHẨN ĐOÁN VỊ TRÍ TBMMN

ĐMN trước, ĐMN giữa, ĐMN sau (tham khảo tuần hoàn máu não- bệnh học thần kinh)

 

* TIẾN TRIẾN CỦA TBMMN: 3 GIAI ĐOẠN

          GĐ CẤP

          GĐ HỒI PHỤC

          GĐ DI CHỨNG VÀ TÁI HÒA NHẬP XÃ HỘI

 

  1. CÁC TRẮC NGHIỆM TRONG LƯỢNG GIÁ TBMMN:
Specific Stroke Scales

This section edited by Dorothy Edwards, Ph.D., Associate Professor of Occupational Therapy and Neurology at Washington University School of Medicine.

 

  Prehospital Stroke Assessment Tools

Acute Assessment Scales


Functional Assessment

Outcome Assessment

Other Diagnostic & Screening Tests

 

  1. 4. PHCN ở giai đoạn cấp

Khi nào có thể bắt đầu phục hồi chức năng sau khi xảy ra tai biến? Ngày nay nhiều nhà lâm sàng cho rằng nên bắt đầu càng sớm càng tốt, thậm chí ngay từ những ngày thứ nhất, thứ hai, khi tai biến đã ổn định. Vậy, cần xác định các dấu hiệu ổn định của TBMN: một số thầy thuốc cho rằng 48 giờ sau tai biến, nếu các thiếu sót thần kinh không tiến triển tiếp, có thể coi là ổn định.

 

4.1. Biểu hiện lâm sàng của giai đoạn cấp:

+ Các yếu tố nguy cơ:

Một trong các nguy cơ dẫn đến TBMN đã kể trên thường gặp nhất là tăng huyết áp. Huyết áp hay ở mức nhẹ hoặc vừa phải: 170-180 tới 220-230 mmHg. Ngoài ra, còn có thể gặp: đái tháo đường với đường huyết cao, và các biểu hiện bệnh lý khác của hệ tim mạch như hẹp hai lá, vữa xơ động  mạch, suy tim…

 

+ Thay đổi về tri giác- nhận thức:

BN có thể bị  hôn mê trong các trường hợp tổn thương phạm vi mạch não rộng do xuất huyết não, hoặc khi tai biến xảy ra ở thân não. Ngoài ra, có thể gặp những rối loạn tri giác- nhận thức ở các mức độ khác nhau: lú lẫn, mất định hướng, giảm tập trung chú ý, rối loạn trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc và mất thực dụng

 

+ Khiếm khuyết vận động:

Tuỳ vào tổn thương nguyên phát, vị trí và phạm vi tổn thương mạch máu, mà các rối loạn vận động biểu hiện khác nhau: yếu nhẹ, hay liệt hoàn toàn nửâ người, hay liệt nặng hơn ở một chi. Hội chứng khuyết não ở bao trong gây liệt nửa người thuần tuý vận động. Tổn thương bán cầu não do động mạch não giữa gây liệt nửa người, tay và mặt nặng hơn chân, kèm theo rối loạn cảm giác và ngôn ngữ… Tai biến của hệ thân nền gây liệt nửa người kèm theo liệt giao bên của các dây thần kinh sọ não, có thể kèm theo hội chứng tiểu não, và rối loạn thị trường…

 

+ Các rối loạn giác quan:

Cảm giác: những rối loạn cảm giác có thể gặp ở BN bị TBMN gồm mất hoặc giảm cảm giác nông, sâu gồm cảm giác đau, nóng lạnh, rung, cảm giác sờ và cảm giác về vị trí. Thông thường, những khiếm khuyết cảm giác hay bị bỏ qua do BN ít khi kêu ca về nó. Rối loạn cảm giác thường được hồi phục gần hoàn trong vòng tháng thứ nhất, thứ hai.

 

+ Các thương tật thứ phát

Có thể xảy ra các thương tật thứ cấp như loét do đè ép, teo cơ, cứng khớp, cốt hoá lạc chỗ, huyết khối tĩnh mạch, bội nhiễm phổi hoặc nhiễm trùng tiết niệu…

 

4.2. Phục hồi chức năng ở giai đoạn cấp:

* Mục tiêu:

Điều trị, theo dõi và kiểm soát chức năng sống

Chăm sóc, nuôi dưỡng

Đề phòng thương tật thứ cấp.

Kiểm soát các yếu tố nguy cơ

Nhanh chóng đưa người bệnh ra khỏi trạng thái bất động tại giường, duy trì hoạt động chức năng

 

* Các biện pháp điều trị và phục hồi chức năng:

* Điều trị, kiểm soát chức năng sống:

+ Phẫu thuật: có thể cần can thiệp khi có máu tụ nội sọ, gây rối loạn tri giác, hoặc kẹp túi phồng động mạch, tĩnh mạch… hay làm cầu nối trong- ngoài sọ, cắt bỏ lớp áo trong động mạch cảnh…

+ Điều trị : Bao gồm các thuốc hạ áp, thuốc chống đông, kiểm soát đường máu, chống phù não và thuốc tăng cường oxy tới não. Tuỳ theo trường hợp xuất huyết não hoặc thiếu máu cục bộ, có thể chọn lựa các phác đồ khác nhau. Lưu ý một số yếu tố cơ chế bệnh sinh như: không hạ huyết áp quá thấp dưới 120mmHg đề phòng giảm áp lực máu lên não. Các chất kháng Canxi không những được dùng với mục đích hạ áp mà còn  nhằm mục đích bảo vệ tế bào não khỏi ngộ độc các ion Ca. Việc bồi phụ nước điện  giải cần cân nhắc lượng dịch truyền  tránh phù não. Những hiểu biết về vùng tranh tối tranh sáng gợi ý cho việc sử dụng các thuốc bảo vệ  tế bào não. Thuốc như cerebrolysine có thể dùng tới 30ml/ ngày ở giai đoạn cấp, 10ml/ ngày ở  giai đoạn hồi phục.

 

* Chăm sóc- nuôi dưỡng: Giai đoạn cấp, BN thường được theo dõi ở phòng hồi sức hoặc cấp cứu, duy trì đường hô hấp, miệng họng sạch. Đặt nội khí quản và thở máy nếu có tăng tiết dịch hoặc hôn mê. Sonde bàng quang để theo dõi dịch. Chăm sóc da (lăn trở 2h/lần). Sonde dạ dày nếu BN hôn mê. Trong những ngày đầu, cần hướng dẫn gia đình chế độ ăn, cách cho ăn để tránh nghẹn, sặc, nuốt kém, nhai kém do liệt hầu họng và mặt.

 

* Đề phòng thương tật thứ phát: Vận động TL

– Tư thế: cho người bệnh nằm hướng bên liệt ra ngoài để tăng

khả năng nhận kích thích từ phía liệt. Dùng gối kê vai, hông bên liệt và hướng dẫn gia đình cách đặt các tư thế tại giường. Giai đoạn này có thể cần băng

 tb1
treo khuỷu tay để giảm bán trật khớp vai.

Bài tập thụ động theo tầm vận động khớp để ngăn ngừa co rút, huyết khối và các biến chứng khác.

 

 tb2

– Tập chủ động: có thể hướng dẫn BN một số bài  tự tập phối hợp bên lành- bên liệt như: cài hai tay gấp vai lên 180 độ, tập làm cầu

 

tb3

* Kiểm soát các yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ tai biến mạch não

TCYTTG  năm 1989-1990 đã tổng kết các yếu tố nguy cơ của TBMN, chúng làm tăng tỷ lệ tai biến 7-10 lần. Có thể xếp loại như sau:

+ Các bệnh tim- mạch: Tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, các bệnh tim (loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn), bệnh van tim…

+ Các nguyên nhân dinh dưỡng, chuyển hoá: bệnh béo phì, uống rượu,  hút  thuốc lá, ăn mặn, đái tháo đường, tăng lipit huyết thanh, tăng A. uric máu…

+ Các yếu tố khác:

Dùng thuốc như thuốc tránh thai có oetrogen, các yếu tố gia đình, bệnh tăng  tiểu cầu, tăng Hematocrit, bệnh thận và một số trường hợp khác.

 

* Hỗ trợ BN độc lập tối đa về hoạt động chức năng tại giường

– Hướng dẫn BN tập lăn trở sang hai bên, trợ giúp ngồi dậy, tập ngồi có tựa rồi ngồi không tựa. Tập thăng bằng ngồi.

 

– Nếu BN ngồi vững, có thể cho BN tập đứng dậy từ ghế.

 tb4
– Tập các hoạt động chức năng tại giường (HĐTL): thay quần áo, ăn uống, di chuyển giường xe lăn…

 

 tb5
  1. PHCN ở giai đoạn hồi phục

5.1. Đặc điểm lâm sàng:

* Tri giác nhận thức:

Được cải thiện và ổn định, BN phối  hợp được với việc thăm khám và điều trị. Cũng nhờ đó, các hoạt động ăn uống, hô hấp, bài tiết được kiểm soát, giảm bớt nguy cơ các thương tật thứ cấp. Việc lượng giá chức năng nhận thức ở giai đoạn này cần được tiến hành nhằm tìm hiểu một số vấn đề như: hội chứng bán cầu não không ưu thế, mất thực dụng, rối loạn giác quan và nhận thức … giúp cho phục hồi chức năng được toàn diện.

 

* Khiếm khuyết vận động:

Đặc trưng bởi liệt mềm, rồi chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng điển hình và “cử động khối”.

* Mẫu co cứng

Trương lực cơ được chi phối bởi phản xạ trương lực cơ nguyên phát và thứ phát ở tuỷ sống. Khi kích thích các đầu mút cảm giác thứ phát trong các cơ gập sẽ gây đồng vận gập thông qua neuron vận động gamma và anpha. Cũng tương tự sẽ gây

được đồng vận duỗi ở các cơ duỗi. Khi có tổn thương não, hoạt động của các neuron ở tuỷ sống ở  trạng thái thoát ức chế, dần xuất hiện mẫu co cứng và các phản xạ đồng vận ở các chi.tb6

Mẫu co cứng ở BN liệt nửa người.

Mẫu co cứng thường xuất hiện vào giai đoạn hồi phục, thể hiện bằng hiện tượng tăng trương lực các cơ gập ở tay và các cơ duỗi ở chân. Các khớp chi trên ở  tư  thế gấp, khép và xoay trong, còn các khớp ở chân ở tư thế duỗi dạng và xoay ngoài. Cơ ở cổ và thân bên liệt co ngắn hơn bên lành.

Liệt nửa người có thể diễn biến qua các giai đoạn: cấp tính, giai đoạn hồi phục và giai đoạn di chứng. Chương trình PHCN cần được thiết kế tuỳ vào giai đoạn tiến triển của bệnh.

 

* Hội chứng vai tay và hiện tượng đau khớp vai bên liệt:

Hiện tượng đau khớp vai và tay bên liệt còn được gọi là phản xạ loạn dưỡng giao cảm. Khớp vai sưng, đỏ, đau, co rút, hạn chế vận động, đau lan xuống các khớp còn lại của chi. Chụp XQ có thể thấy hiện tượng loãng xương hình đốm, mất canxi của xương. Người ta cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do kém cân bằng của hệ thần kinh giao cảm hoặc thần kinh tự động. Nó có thể gặp trong một số bệnh lý khác như cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, sau phẫu thuật lồng ngực…

* Các hoạt động chức năng:

Di chuyển: thường bằng xe lăn. Người bệnh có thể tự lăn trở, ngồi dậy tại giường. Thăng bằng và điều hợp chưa tốt cản trở việc di chuyển cho dù cơ lực có thể đã hồi phục.

Các hoạt động tự chăm sóc: Tay liệt hồi phục chậm hơn, khiến các hoạt động hàng ngày chủ yếu nhờ tay lành. Mẫu co cứng thường tạo thuận cho di chuyển nhưng đối với tay, nó thường cản trở các hoạt động sinh hoạt như: mặc áo, cầm đồ vật… do hiện tượng đồng vận các khớp ở tay, co cứng và quay sấp cẳng tay.

 

* Rối loạn ngôn ngữ và lời nói:

Phổ biến nhất là thất ngôn và mất thực dụng lời nói. Xác định thất ngôn dựa vào việc phát hiện khiếm khuyết  của một trong bốn hình thái ngôn ngữ: nghe hiểu, nói, đọc và viết.

 

5.2. Mục tiêu và các biện pháp phục hồi chức năng

* Mục tiêu:

– Duy trì tình trạng sức khoẻ ổn định, tạo điều kiện cho việc tập luyện, vận động

– Tăng cường sức mạnh cơ bên liệt

– Tạo thuận và khuyến khích tối đa các hoạt động chức năng

– Kiểm soát các rối loạn tri giác, nhận thức, giác quan, ngôn ngữ.

– Hạn chế và kiểm soát các thương tật thức cấp

– Giáo dục và hướng dẫn gia đình cùng tham gia phục hồi chức năng

ở giai đoạn này, việc phục hồi chức năng mang tính toàn diện, nhằm tác động lên toàn bộ những khiếm khuyết, giảm khả năng của người bệnh, sớm cho họ độc lập. Nhóm phục hồi gồm các thành viên như: bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên vật lý trị liệu, chuyên gia ngôn ngữ trị liệu, dụng cụ  chỉnh hình và một số thành viên khác… Những thành viên này phải phối hợp các biện  pháp để PHCN cho người bệnh có hiệu quả.

 

* Các biện pháp điều trị – PHCN:

* Điều trị:

Chủ yếu là kiểm soát huyết áp, đau khớp vai, co cứng cơ và tăng cường tuần hoàn não. Đau khớp vai có thể hạn chế bằng các biện pháp nhiệt, điện hoặc dùng thuốc. Trong hội chứng vai tay, người ta hay dùng: thuốc chống viêm giảm đau không steroide, prednisolon 1mg/kg/ngày trng 1 tuần rồi hạ liều nhanh. Đôi khi phong bế hạch giao cảm cũng được sử dụng. Về vận động khớp vai chủ yếu là duy trì tầm vận động khớp vai và kéo giãn nhẹ nhàng.

 

* Chế độ vận động và các dạng bài tập

 + Tăng cường sức mạnh cơ bên liệt: Là mục tiêu các bài tập ở khởi đầu của giai đoạn hồi phục, muộn hơn người bệnh được tập điều hợp và tái rèn luyện thần kinh cơ. Do mức độ hồi phục ở các cơ khác nhau mà KTV VLTL có thể tập chủ động trợ giúp, chủ động theo tầm vận động hoặc có kháng trở.

Để tái rèn luyện thần kinh cơ, BN được tập các hoạt động chức năng, đặc biệt là di chuyển.

 

+ Tập mạnh cơ với các dụng cụ tập: với tạ, giàn tạ, chùy, ghế tập cơ tứ đầu đùi…

 

 

 

tb7

 

 

 

Tập có kháng trở với dụng cụ

+ Kiểm soát thăng bằng và điều hợp hỗ trợ di chuyển: được tập ngay từ đầu nhờ bài tập thăng bằng ngồi, đứng, đi. Để có thăng bằng khi đi, có thể sử dụng nạng, gậy, hoặc thanh song song, khung đi. Với mục đích tăng cường thăng bằng khi đi, có thể cho BN tập đi trên ghế băng, tập bàn nhún hoặc đi theo hình vẽ trên mặt đất…

 

 

tb8

 

 

 

Tập thăng bằng

với dụng cụ

 

* Tăng cường khả năng độc lập chức năng: Hoạt động trị liệu

Là những hoạt động chủ yếu tăng cường khả năng vận động của tay, giúp độc lập trong sinh hoạt, cải thiện năng lực thể chất và tinh thần, giúp người bệnh sớm hội nhập xã hội. Hoạt động trị liệu được chỉ định dưới những dạng hoạt động chơi, thể thao, giải trí sáng tạo, nghệ thuật, các hoạt động hàng ngày, nội trợ, hay hoạt động hướng nghiệp. Khi tri giác ổn định, BN có thể phối hợp với mệnh lệnh, và cơ lực hồi phục ở các nhóm cơ riêng rẽ. nên chỉ định HĐTL để rút ngắn thời gian nằm viện.

 

* Kiểm soát các thương tật thứ phát:

+ Nếu trương lực cơ tăng quá mạnh: có thể kết hợp bài tập thụ động theo tầm vận động và kỹ thuật kéo giãn. Ví dụ kéo giãn khớp cổ chân, kỹ thuật ức chế co cứng đối với các khớp ở gốc chi và ngọn chi, đứng bàn nghiêng hoặc sử dụng nẹp chỉnh hình. Đôi khi, có thể phải phối hợp với thuốc giãn cơ hoặc phong bế tại chỗ vào các điểm vận động cuả cơ bị co cứng bằng Phenol 1% hay cồn 60 độ. Ngày nay người ta thường sử dụng các sản phẩm chứa độc tố vi khuẩn Botolinum để gây giãn cơ như: Dysport hoặc Botox với liều lượng thấp.

 

* Dụng cụ phục hồi chức năng:

Được sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả với nhiều mục đích khác nhau: trợ giúp các hoạt động chức năng, chỉnh hình và các dụng cụ vật  lý trị liệu.

Với mục đích trợ giúp, có thể chỉ định nẹp cổ chân (nẹp dưới gối) khi nhóm cơ nâng bàn chân bên liệt hồi phục quá chậm hoặc không có. Nẹp giúp di chuyển dễ hơn đồng thời ngăn ngừa thói quen gấp và nâng hông bên liệt khi đi. ở cộng đồng có thể cho BN dùng đai nâng chân bằng vải, còn nếu có xưởng chỉnh hình, nẹp được làm từ nhựa polypropylen theo khuôn chân BN. Ngoài ra, có thể cho BN di chuyển với trợ giúp của khung đi, nạng, gậy…

Các dụng cụ chỉnh hình cho BN liệt nửa người có thể gồm: đai nâng vai,  nẹp cổ chân, máng đỡ cổ tay. Khi mẫu co cứng quá mạnh, các cơ đối vận yếu, có nguy cơ biến dạng khớp cần chỉ định nẹp chỉnh hình.

Trong qua trình tập bên liệt, các dụng cụ vật lý trị liệu đóng vai trò rất quan trọng, biết chỉ định và sử dụng các dụng cụ ấy, thầy thuốc sẽ giúp được người bệnh tăng thời gian tập ở bệnh viện hoặc tại nhà nhờ các bài tự tập với dụng cụ. Đặc biệt ở giai đoạn đã có co cơ chủ động. các dụng cụ loại này có thể kể ra như: ròng rọc tập tay, xe đạp, bao cát, tạ hoặc chày, gậy, gỗ, bàn tập khớp gối, cầu thang…

 

* Ngôn ngữ trị liệu:

Được chỉ định trong trường hợp bị thất ngôn. Nguyên tắc huấn luỵên ngôn ngữ là thiết lập một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ bổ sung và thay thế những hình thái ngôn ngữ bị mất hoặc tổn thương. Việc xây dựng hệ thống tín hiệu này dựa trên quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường, đi từ thấp đến cao: kỹ năng không lời, các âm vị, âm tiết rồi tới câu với các cấu trúc ngữ pháp. Các biện pháp điều trị và tiên lượng của các thể thất ngôn rất khác nhau. Trong những thể thất ngôn toàn bộ hoặc đơn độc, khả năng hồi phục rất kém, thường phải giúp BN giao tiếp bằng ngôn ngữ không lời. Thất ngôn diễn đạt có thời gian hồi phục ngắn hơn và tiên lượng tốt hơn thất ngôn tiếp nhận.

 

  1. PHCN tại cộng đồng và hướng nghiệp sau xuất viện.

6.1. Các di chứng sau tai biến:

Quá trình hồi phục diễn ra chậm dần, sau 6 tháng bị tai biến, khả năng hồi phục rất hạn chế. Nói đến các di chứng sau tai biến là nói tới giai đoạn này. Tuy nhiên, những rối loạn nhận thức và ngôn ngữ vẫn tiếp tục được cải thiện hàng năm sau khi bị bệnh. Phần lớn khả năng hồi phục ở BN là về vận động, đặc biệt ở chi dưới. Theo thống kê trên BN khoa PHCN -Bệnh viện Bạch mai, thời gian trung bình từ khi bị tai biến đến lúc BN đi được là 30 ngày. Còn theo dõi sau 1 năm, tỷ lệ BN độc lập về chức năng (di chuyển và tự chăm sóc) chỉ đạt 33,5%. Những vấn đề chính của BN là:

 

* Co cứng và co rút các khớp bên liệt: xảy ra đặc biệt rõ ở cổ chân bên liệt, khiến khi di chuyển, bàn chân tiếp đất bằng mũi hoặc cạnh ngoài, các ngón chân quắp. Khớp hông bên liệt gập và thântb6

Mẫu co cứng ở nửa người bên liệt (trái)

 

co ngắn. Khớp vai khép, xoay trong, cử động thụ động rất hạn chế do đau. Khuỷu và cổ tay gấp, cẳng tay quay sấp. Rất ít cử động chức năng ở tay bên liệt. Nếu BN khi xuất viện có nẹp chỉnh hình, những biến dạng này có thể kiểm soát được.

 

* Rối loạn thăng bằng điều hợp:

Ngoài yếu cơ, các rối loạn thăng bằng, điều hợp cũng tham gia gây hạn chế các hoạt động chức năng. BN di chuyển hoặc thực hiện một hoạt động theo mẫu cử động khối.

 

* Hạn chế về giao tiếp:

Đối với ngay cả những BN không bị thất ngôn. Bị hạn chế trong môi trường gia đình, các mối liên hệ xã hội giảm. Còn BN bị thất ngôn, khả năng hiểu và diễn đạt kém lại là trở ngại trong quan hệ với người thân và xã hội, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hội chứng trầm cảm sau tai biến.

 

* Trầm cảm: bản thân tổn thương não gây trầm cảm, ngoài ra sự cách biệt khỏi môi trường kéo dài cũng gây những thay đổi về trí tuệ và hoạt động tư duy. BN dễ xúc động, dễ khóc, khó kiểm soát những biểu hiện cảm xúc. Thông thường hiện tượng trầm cảm ở BN tai biến mạch não là tạm thời, không kéo dài trên 1 năm. Khuyến khích, khen ngợi những cố gắng của BN khi tập luyện là biện pháp tốt để giảm bớt trầm cảm.

 

6.2. Phục hồi chức năng

* Mục tiêu:

Những mục tiêu chính ở giai đoạn này:

–  Duy trì tình trạng sức khoẻ ổn định

– Tăng cường độc lập tối đa trong các hoạt động chăm sóc bản thân

– Hạn chế các di chứng

– Khuyến khích người bệnh tham gia các hoạt động của gia đình và xã hội

– Thay đổi kiến trúc cho phù hợp với tình trạng chức năng của người bệnh

– Hướng nghiệp

– Giáo dục và lôi kéo gia đình tham gia vào quá trình tập luyện và tái hội nhập.

 

* Các biện pháp phục hồi chức năng

* Theo dõi sức khoẻ định kỳ: sau xuất viện cho bệnh nhân là cần thiết để đề phòng tai biến tái phát. Việc theo dõi có thể chuyển về tuyến cơ sở nơi BN sinh sống. Ngoài ra, mối liên hệ thường kỳ với cơ quan y tế còn nhằm mục đích giáo dục truyền thông về phòng ngừa, chăm sóc người tàn tật. Từ phía người bệnh, việc này tạo cho họ tâm lý an tâm, được chăm sóc.

Thuốc men có thể cần là các thuốc giãn cơ: nếu các thuốc giãn cơ thông thường kém hiệu quả, có thể sử dụng Baclofen (Lioresal) hoặc Dantrolen (Dantrium) để kiểm soát co cứng. Dùng thuốc sau cùng cần kiểm tra chức năng gan trước sau điều trị, vì nó có thể gây viêm gan nhiễm độc.

 

  • Các bài tập tại nhà:
BN cần được hướng dẫn những bài tập này trước khi xuất viện. Tốt nhất bài tập được thiết kế dưới hình thức các hoạt động. Có thể kể ra đây một số ví dụ: tập khớp vai bằngtb9

Tập cầm nắm bằng tay liệt

ròng rọc, gấp vai thụ động nhờ tay lành, dồn trọng lượng lên tay liệt khi ngồi, tập với theo các mốc đánh dấu trên tường bằng tay liệt …

Đối với chân, BN có thể đạp xe đạp, đi bộ lên xuống cầu thang, tập đi trên mặt đất không phẳng, đi ra khỏi môi trường quen thuộc…

 

* Hoạt động tự chăm sóc

Môi trường gia đình là nơi BN có thể tập các hoạt động tự chăm sóc tốt nhất. Khuyến khích người bệnh tự thực hiện các hoạt động ăn uống, tắm rửa, thay quần áo, đi vệ sinh theo nền nếp … giống như trước khi bị bệnh. Một số hoạt động có thể trợ giúp một phần; ví dụ di chuyển trong nhà vệ sinh, buộc dây giầy… Tuy nhiên, cần thay đổi các vật dụng cuả người bệnh một cách  thích ứng để họ có thể độc lập tối đa. Chẳng hạn: làm tay cầm để BN tự cầm lược chải  đầu, xúc ăn, dùng băng dán thay cho cúc áo…

*  Nội trợ và các hoạt động khác trong gia đình

BN là phụ nữ thì nhu cầu làm nội trợ rất cần thiết. Nên động viên BN tham gia nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc con cái. BN có thể thực hiện một phần những hoạt động này, cố gắng thay đổi vị trí, kích thước, chiều cao bệ bếp, dây phơi… để BN có thể làm những việc đó khi ngồi xe lăn hoặc trên ghế dựa.

 

* Các hoạt động khác và hướng nghiệp:

Giao tiếp xã hội, và tham gia các hoạt động của cộng đồng là nhu cầu thiết yếu của mỗi người. Nên dần đưa người bệnh đi ra ngoài, thăm hàng xóm, đi mua bán, họp hành ở phường xóm. Việc đó tạo cho họ một tâm lý vui vẻ, tự tin và động lực tập luyện, ham muốn tái hội nhập. Đồng thời, những cuộc thăm viếng đó cũng làm thắt chặt mối quan hệ với mọi người xung quanh, là tiền đề cho việc tìm kiếm cơ hội làm việc.

 

* Thay đổi kiến trúc nơi người bệnh sinh sống

Kiến trúc kiểu căn hộ,  nghĩa là toàn bộ diện tích gia đình đều trên một mặt sàn, hiện nay ở các đô thị Việt nam chưa phổ biến. ở nông thôn, việc này tương đối thuận tiện, nhưng lề lối bố trí các công trình vệ sinh, nhà bếp, gây khó khăn cho người bệnh. Do vậy, thầy thuốc PHCN nên tư vấn cho BN và gia đình họ để có những lựa chọn hợp lý  khi xuất viện. Nhà ở cao tầng, kích thước cửa ra vào, nhà vệ sinh, bếp, bàn ghế, bậc lên xuống và xe lăn đặc biệt cho BN liệt nửa người là những vấn đề cần điều chỉnh khi BN xuất viện.

* Vai trò của gia đình trong quá trình hội nhập xã hội

Thời gian phục hồi sau tai biến, có thể kéo dài hàng năm, trong khi người bệnh chỉ có thể ở lại trong bệnh viện 1-2 tháng. Do vậy, việc hướng dẫn, giáo dục gia đình họ tham gia vào chăm sóc, tập luyện rất cần thiết. Nên để gia đình họ quan sát các bài tập, cách đặt tư thế, cách đỡ BN khi lăn trở, di chuyển, hạn chế giúp BN khi BN đã tự làm được trong sinh hoạt hàng này. Khi xuất viện, gia đình cũng cần được biết về mục tiêu và chương trình tập tại nhà để động viên, tham gia cùng tập với BN, cần được hướng dẫn về chế độ ăn uống, nghỉ ngơi thích hợp cho người bệnh.

 

Kết luận: chương trình phục hồi chức năng cho BN liệt nửa người mang tính toàn diện, tác động vào nhiều mặt giảm khả năng của người bệnh. Nhiều chuyên gia tham gia ở những giai đoạn khác nhau của bệnh, thời gian phục hồi kéo dài, di chứng nặng nề, chi phí xã hội lớn, khiến cho vấn đề này trở thành mối quan tâm chung mang tính xã hội. Cần thiết phải có những biện pháp phòng ngừa TBMN và phòng ngừa tái phát.

 

Câu hỏi tự lượng giá:

  1. Trình bày được các nguyên tắc PHCN cho bệnh nhân liệt nửa người ở các giai đoạn: cấp, giai đoạn hồi phục và giai đoạn di chứng.
  2. Khám lượng giá chức năng được cho bệnh nhân bị liệt nửa người do tai biến mạch máu não
  3. Xây dựng được mục tiêu và chọn được các kỹ thuật phục hồi chức năng phù hợp với tiến triển của bệnh.

 

Tài liệu tự đọc thêm:

  1. Nguyễn Văn Đăng. Tai biến mạch máu não. NXB Y học.2001
  2. Vũ Thị Bích Hạnh, Đặng Thái Thu Hương. Âm ngữ trị liệu. NXB Y học. 2004
  3. Hồ Hữu Lương. Lâm sàng thần kinh. NXB Y Học. 2002.
  4. Trương, Lê Đức Hinh, Nguyễn Thi Hùng. Thần kinh học lâm sàng. NXB Y học. 2004.
  5. Vật lý trị liệu Phục hồi chức năng. Chủ biên Nguyễn Xuân Nghiên. NXB Y học 2002
  6. Physical Medecine and Rehabilitation. Kottke/ Lehmann. B Saunders Company. 2006
Subscribe
Notify of
guest
2 Comments
Newest
Oldest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments
Đông

kính gửi bác sỹ Hào. Cám ơn bác sỹ về bài viết tổng quát rất khoa học. bố tôi 72 tuổi và bị liệt nửa người 2 năm nay, điều trị liên tục tại viện điều dưỡng nhưng kết quả không khả quan. bác sỹ có thể giúp tư vấn đơn vị nào có khả năng giúp đỡ gia đình thêm ạ. xin cảm ơn bác sỹ.